|
CHO CHỮ
Nguyễn Duy Đối
Mỗi dịp
xuân về hay lễ hội
Bút
nghiên giấy mực lại mang ra
Khách
xin chữ rộn ràng, náo nức
Hồn xuân
theo ngọn bút, thăng hoa
Người tử
tế, mừng chữ Phúc chữ Lộc
Ai hiền
lành, ta biếu chữ Tâm
Kẻ “sốt
dạ”, ta cho chữ Nhẫn
Giàu trí
năng, ta gửi chữ Thần
Người
khó khăn, trao liền chữ Tĩnh
Bạn tri
giao, xin tặng chữ Tình
Riêng
chữ Đức, lòng xin giữ lại
Dành
hiến dâng ai biết hy sinh
Chữ
Thánh Hiền có thần có sắc
Ủ thơm
lành hồn phách cha ông
Từng con
chữ hiện trên trang giấy
Mỗi nét
hoa thư một tấm lòng.
SỬU NIÊN, TỰ DỤ
Nguyễn Duy
Đối
Thất
thập tam linh thả tố xuân
Lộ trình
dã hứa bạch phong trần
Ban kinh
đạo cố hoan hài tiếu
Bão hữu
hý liêu lạc tửu thuần
Dĩ túc
cầm kỳ ư ký ức
Do trì
hàn mặc thiết giao luân
Tâm hư
hữu tiết kỳ mai thụ
Cốt
thiết trúc chi khả báo xuân (*)
(*)Cổ
nhân : “Sư trúc tâm hư nhi hữu tiết;
hiệu mai cốt thiết khả sinh xuân”
( Học theo trúc, rỗng lòng nhưng
mắt cứng; Bắt chước mai, xương sắt nảy mầm xuân )
.
Dịch :
Năm Sửu, tự nhủ mình
Tuổi bảy
mươi ba cứ trẻ trung
Đường
đời chừng cũng vợi gai chông
Khi
choàng vai bạn buông câu tếu
Lúc trải
cành kinh chạm chén nồng
Đã nhét
cầm kỳ vào ký ức
Duy còn
bút mực vẫn đèo bòng
Rỗng
lòng, cứng đốt, trúc là vậy
Cành
sắt, mai kia lại nảy bông
TRI
TÚC
Nguyễn Duy
Đối
Hồi đầu
tự mục thất dư xuân
Tu phát
sương ban quá bán phần
Dinh dật
kim tiền, ngô bất thiết
Oai
phong xa mã: ngã hà cần
Tinh
thần ninh dục thường thanh sảng
Vật chất
tri thù thả túc bân
Lưỡng
vực công tư hồ tạm thiện
Thân
khâm “tri túc” tập tiền nhân
Dịch:
Tri túc
Ngoái
đầu nhìn lại : bảy ba xuân
Mái tóc
sương pha quá nửa phần
Quyền
chức cao sang ta chẳng có
Bạc tiền
dư dật tớ đâu cần
Tinh
thần chỉ cốt luôn thanh sảng
Vật chất
lo lường đủ ấm thân
Đôi ngã
riêng chung đà tạm vẹn
Gọi là
“tri túc” học tiền nhân
TỰ BẠCH
Nguyễn Duy Đối
Lịch sổ
xuân thu lăng lộ đoạn
Dĩ lâm
sái liệt, mộc phong sương
Phủ trì
, chiếu liệu đa nha nộn
Chuyên
chú, thao tâm kỷ học đường
Thụ kế
chi mưu hồ thiện chỉnh
Lợi quyền quản thế, bất tư mang
Sư mai
học trúc, toàn phong tiết (*)
Vĩnh
diệu tâm hồn, diệu kính lương
(*)Cổ
nhân: “Sư trúc tâm hư nhi hữu tiết; Hiệu mai cốt thiết khả sinh xuân” ( Học theo trúc rỗng lòng nhưng có đốt; Bắt
chước mai xương sắt nảy mầm xuân)
Dịch :
Mấy chục
xuân qua vượt chặng đường
Đã dầm
nắng nỏ, gội phong sương
Nâng niu
chăm chút bao mầm trẻ
Mài miệt
toan lo những mái trường
Sự nghiệp
trồng người chừng vẹn vẻ
Lợi
quyền mặc thế, chẳng tơ vương
Học theo
Mai Trúc, toàn phong tiết
Mãi đẹp
tâm hồn, mãi sáng gương.
|
Kính tặng Thầy Đối Viết bởi:
Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó
Ngày 2009-02-25 13:59:59 Bốn mươi năm gặp lại thầy, Trên trang báo mạng, nơi này vần thơ . Bốn mươi năm ấy bây giờ, Thầy cao niên tuổi, em phơ phơ đầu . Ơn thầy nghĩa nặng tình sâu, Thầy cho em chữ, đổi mầu thân em . Như nguồn sửa mẹ bồi thêm, Tri thức, cuộc sống cho em trưởng thành . Xa quê mẹ, đất Yên Thành, Vẫn luôn hướng tới nơi mình sinh ra . Ơn thầy, nghĩa mẹ, tình cha, Làm sao quên được theo ta trọn đời . Nhân đây em có đôi lời, Chúc thầy vạn thọ, cuộc đời bình yên . Chữ thầy lan toả khắp miền, Phồn vinh đất nước có riêng công thầy . Kính chào thầy Thái Duy Hùng Học sinh cấp 2 Tăng Thành khoá 69-72 . | |